I .QUY ĐỊNH CỦA BLTTDS VỀ HÒA GIẢI
- Một số nguyên tắc cơ bản về hoà giải trong tố tụng dân sự: Khi giải quyết vụ án dân sự, Thẩm phán phải tuân thủ triệt để các nguyên tắc cơ bản sau: Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện không trái pháp luật và đạo đức xã hội (Đ.5). Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (Đ.10).
>>> Tham khảo: Thành lập công ty xây dựng Nhật bản tại Việt Nam
2. Những vụ án dân sự không được hoà giải và các trường hợp không tiến hành hoà giải được: Hoà giải là một thủ tục tố tụng bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nếu không thực hiện là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Trừ các trường hợp sau:
a) Những vụ án dân sự không được hoà giải (Đ.181).
1. Yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.
2. Những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội. Những giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức được hiểu là những giao dịch không có đủ các điều kiện có hiệu lực, các giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật, các giao dịch trái với đạo đức xã hội được quy định tại các Điều 122, 128 Bộ luật dân sự.
Đối với vụ án ly hôn, các trường hợp không được hoà giải là:
- Khi kết hôn, một trong hai bên hoặc cả hai bên nam, nữ chưa đủ tuổi kết hôn theo luật định;
- Thiếu sự tự nguyện của nam, nữ khi kết hôn như có hành vi cưỡng ép kết hôn hoặc có hành vi lừa dối để kết hôn;
- Các bên nam, nữ vi phạm nguyên tắc kết hôn một vợ, một chồng;
- Các bên nam nữ đang mắc bệnh tâm thần, không có khả năng nhận thức hành vi của mình;
- Các bên nam nữ có quan hệ huyết thống với nhau trong phạm vi ba đời; cha mẹ nuôi kết hôn với con nuôi;
- Những người cùng giới tính kết hôn với nhau.
Cần lưu ý một số điểm hướng dẫn Điều 181 BLTTDS tại Nghị quyết số 02/2006 của HĐTP Toà án nhân dân tối cao như sau:
>>> Tham khảo: Thành lập công ty cho thuê máy móc trong lĩnh vực xây dựng có yếu tố nước ngoài
1. “Tài sản của Nhà nước” được hiểu là tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước quy định tại Điều 200 của Bộ luật dân sự năm 2005 và được điều chỉnh theo các quy định tại mục 1 Chương XIII của Bộ luật dân sự năm 2005. “Yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản của Nhà nước” là trường hợp tài sản của Nhà nước bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật, do hợp đồng vô hiệu, do vi phạm nghĩa vụ dân sự... gây ra và người được giao chủ sở hữu đối với tài sản Nhà nước đó có yêu cầu đòi bồi thường.
Khi thi hành quy định tại khoản 1 Điều 181 của BLTTDS cần phân biệt:
a) Trường hợp tài sản của Nhà nước được giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang quản lý, sử dụng hoặc đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước thực hiện quyền sở hữu thông qua cơ quan có thẩm quyền, thì khi có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến loại tài sản này, Toà án không được hoà giải để các bên đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
b) Trường hợp tài sản của Nhà nước được Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, góp vốn trong các doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mà doanh nghiệp được quyền tự chủ chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản và chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với tài sản đó trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, thì khi có yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản đó, Toà án tiến hành hoà giải để các bên đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
2. Toà án không được hoà giải vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật (giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật) hoặc trái đạo đức xã hội, nếu việc hoà giải nhằm mục đích để các bên tiếp tục thực hiện các giao dịch đó. Trường hợp các bên chỉ có tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu do trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội, thì Toà án vẫn phải tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu đó.
b) Những vụ án dân sự không tiến hành hoà giải được (Đ.182)
1. Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.
2. Đương sự không thể tham gia hoà giải được vì lý do chính đáng (như ở nước ngoài, ở tù…).
3. Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự.
3. Trình tự, thủ tục và nguyên tắc tiến hành hoà giải
3.1. Nguyên tắc tiến hành hoà giải (Đ.180)
1. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Toà án tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được.
2. Việc hoà giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau :
a) Tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thoả thuận không phù hợp với ý chí của mình.
b) Nội dung thoả thuận giữa các đương sự không được trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội.
3.2. Thành phần phiên hoà giải (Đ.184)
1. Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải.
2. Thư ký Toà án ghi biên bản hoà giải.
3. Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự.
4. Trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán có thể yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia phiên hoà giải.
3.3. Nội dung hoà giải (Đ.185) Khi tiến hành hoà giải, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hoà giải thành để họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
3.4. Biên bản hoà giải (Đ.186) Biên bản hoà giải phải ghi đúng và đầy đủ các nội dung quy định tại Điều 186 BLTTDS và theo mẫu của HĐTP Toà án nhân dân tối cao đã hướng dẫn.
3.5. Ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự (Đ.187) Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
3.6. Hiệu lực của quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự (Đ.188)
1. Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay.
2. Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Khi hoà giải các vụ án dân sự, ngoài việc áp dụng các quy định của pháp luật đối với nội dung tranh chấp cụ thể đó và thực hiện thủ tục theo quy định chung của BLTTDS nêu trên, Thẩm phán còn phải căn cứ Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành phần này để thực hiện.
4. Một số nội dung sửa đổi, bổ sung của Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS về hoà giải vụ án dân sự và những vấn đề cần thống nhất áp dụng
a) Điều 184 BLTTDS đã sửa đổi, bổ sung có nội dung như sau:
“Điều 184. Thành phần phiên hoà giải
1. Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải.
2. Thư ký Toà án ghi biên bản hoà giải.
3. Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự.
Trong vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hoà giải và việc hoà giải đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành hoà giải giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hoà giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên hoà giải. Thẩm phán thông báo việc hoãn phiên hoà giải và việc mở lại phiên hoà giải cho đương sự biết.
4. Trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán có thể yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia phiên hoà giải.
5. Người phiên dịch, nếu đương sự không biết tiếng Việt.”
Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS thì ngoài các thành phần quy định tại Điều 184 của BLTTDS hiện hành, nay còn bổ sung thêm: Trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán có thể yêu cầu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia phiên hoà giải. Quy định bổ sung này cần hiểu rằng đây không phải là thành phần bắt buộc mà chỉ khi Thẩm phán thấy cần thiết thì có thể yêu cầu tham gia (quy định tuỳ nghi). Điều 184 còn bổ sung thêm nội dung: Thẩm phán thông báo việc hoãn phiên hoà giải và việc mở lại phiên hoà giải cho đương sự biết. Với quy định này, khi hoãn phiên hoà giải thì Thẩm phán phải có văn bản thông báo hoãn và phải ấn định lại ngày hoà giải trong văn bản đó. Vấn đề này đang được dự thảo hướng dẫn thay thế Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán.
b) Bổ sung Điều 185a như sau:
“Điều 185a. Trình tự hoà giải
1. Trước khi tiến hành hoà giải, Thư ký Toà án báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên hoà giải đã được Toà án thông báo. Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia phiên hoà giải.
2. Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải theo nội dung hoà giải quy định tại Điều 185 của Bộ luật này.
3. Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự trình bày ý kiến của mình về những nội dung tranh chấp và đề xuất những vấn đề cần hoà giải.
4. Thẩm phán xác định những vấn đề các bên đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất và yêu cầu các bên đương sự trình bày bổ sung những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất.
5. Thẩm phán kết luận về những vấn đề các bên đương sự đã hoà giải thành và vấn đề chưa thống nhất.” BLTTDS hiện hành tuy chưa quy định trình tự hoà giải, nhưng thực tế các nội dung này Thẩm phán đều đã thực hiện khi tiến hành hoà giải vụ án dân sự. Song việc thực hiện chưa được thống nhất và do chưa quy định cụ thể nên xảy ra nhiều sai sót đáng tiếc (ví dụ không kiểm tra chặc chẽ về căn cước nên thành phần tham gia hoà giải không đúng…). Vì thế bổ sung mới quy định này là hết sức cần thiết; vừa có ý nghĩa nhằm khắc phục những sai sót, vừa hoàn thiện pháp luật và đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật. Điều 185a có những nội dung mới cơ bản, Thẩm phán cần lưu ý là:
Các đương sự hoặc đại diện hợp pháp của đương sự trình bày ý kiến của mình về những nội dung tranh chấp và đề xuất những vấn đề cần hoà giải. Trách nhiệm của Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải theo nội dung hoà giải được quy định tại Điều 185 Bộ luật Tố tụng dân sự. Thẩm phán xác định những vấn đề các bên đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất để các bên đương sự trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất. Thẩm phán phải có trách nhiệm kết luận về những vấn đề mà các bên đương sự đã hoà giải thành hoặc chưa thống nhất.
c) Một số vấn đề cần thống nhất khi thực hiện các quy định sửa đổi, bổ sung
c1) Đối với thành phần tham gia phiên hoà giải quy định tại Điều 184 cần phân biệt như sau:
- Thành phần là các đương sự trong vụ án (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) khi hoà giải phải triệu tập và cần phải có mặt của tất cả các đương sự (trừ trường hợp quy định tại khoản 3, điều 184 BLTTDS) mới tiến hành hoà giải. Nếu bỏ sót hoặc vắng mặt một đương sự nào đó mà vẫn thực hiện hoà giải thì được coi là vi phạm nghiêm trọng tố tụng và kết quả hoà giải đó không có giá trị pháp lý để ra quyết định công nhận.
- Trường hợp vụ án có đương sự không biết tiếng Việt thì sự có mặt của người phiên dịch trong phiên hoà giải cũng được xác định là thành phần bắt buộc.
- Đối với thành phần là cá nhân, cơ quan tổ chức có liên quan được quy định bổ sung tại Điều 184 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS cần được hiểu như sau: Trong trường hợp cần thiết thì Thẩm phán mới yêu cầu họ tham gia phiên hoà giải, nghĩa là đây không phải thành phần bắt buộc. Quy định này là giao quyền cho người Thẩm phán tuỳ thuộc vào từng vụ án để xem xét sự cần thiết hay không cần thiết yêu cầu cá nhân, cơ quan tổ chức có liên quan tham gia phiên hoà giải (yếu tố liên quan này khác với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên). Trường hợp cần thiết là nếu có sự tham gia của họ trong phiên hoà giải thì vụ án sẽ được toàn diện, khách quan hơn.
c2) Về trình tự, các bước tiến hành và kỹ năng thực hiện tại phiên hoà giải theo quy định tại Điều 185a được thực hiện như sau:
- Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải tuyên bố khai mạc phiên hoà giải,
- Sau khi nghe Thư ký Toà án báo cáo có đương sự vắng mặt tại phiên hoà giải, Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải xem xét, quyết định việc hoãn phiên hoà giải theo quy định tại khoản 3 Điều 184 của BLTTDS.
- Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải tiến hành kiểm tra căn cước của đương sự có mặt tại phiên hoà giải như sau:
+ Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải hỏi để các đương sự khai về họ, tên, ngày tháng năm sinh; nơi cư trú (nơi đăng ký hộ khẩu thường trú; nơi cư trú); nghề nghiệp (nếu đương sự là cá nhân); tên, địa chỉ trụ sở chính (nếu đương sự là cơ quan, tổ chức). Đối với người đại diện hợp pháp của đương sự phải hỏi họ để họ khai về: họ, tên, tuổi; nghề nghiệp; chức vụ; nơi cư trú; quan hệ với đương sự.
+ Trong trường hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của các đương sự về căn cước có sự khác nhau, thì cần phải xác minh chính xác về căn cước của họ.
- Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải phải phổ biến đầy đủ quyền, nghĩa vụ của các đương sự và của những người tham gia tố tụng khác quy định tại điều luật tương ứng của BLTTDS. Ví dụ: Đối với nguyên đơn phải giải thích đầy đủ quyền, nghĩa vụ của họ quy định tại Điều 58 và Điều 59 của BLTTDS… Đối với người phiên dịch, người giám định chủ toạ phiên toà yêu cầu họ phải cam đoan làm tròn nhiệm vụ; đối với người làm chứng là người thành niên, thì yêu cầu họ cam đoan khai báo trung thực.
- Đối với trường hợp Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải quyết định hoãn phiên hoà giải, thì phải thông báo thời gian mở lại phiên hoà giải. Nếu Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải quyết định hoãn phiên hoà giải mà trong thời gian chuẩn bị mở phiên hoà giải, có sự thay đổi, phân công lại người tiến hành tố tụng, thì Toà án thông báo cho những người quy định tại Điều 184 của BLTTDS biết.
- Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải theo nội dung hoà giải quy định tại Điều 185 của BLTTDS.
- Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự trình bày ý kiến của mình về những nội dung tranh chấp và đề xuất những vấn đề cần hoà giải.
- Thẩm phán trủ trì phiên hoà giải xác định những vấn đề các bên đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất và yêu cầu các bên đương sự trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất. Trước khi kết thúc phiên hoà giải, Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải cần hỏi đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án hay không; nếu có thì hỏi họ có hoàn toàn tự nguyện hay không, có bị ép buộc hay không và xem xét thoả thuận đó có trái pháp luật, đạo đức xã hội hay không và thông báo cho họ biết hậu quả của việc Toà án ra quyết định công nhận thoả thuận đó, thì các đương sự không được kháng cáo, Viện kiểm sát không được kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; quyết định của Toà án công nhận sự thoả thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án có hiệu lực pháp luật. Phiên hoà giải phải được ghi biên bản theo quy định tại Điều 186 của BLTTDS, trước khi kết thúc phiên hoà giải Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải xem xét có nội dung nào đương sự đã thoả thuận mà trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội hay không; nếu có thì cần phải giải thích để họ thoả thuận lại và Thẩm phán cũng cần phải thông báo cho họ biết về thoả thuận đó không có hiệu lực công nhận và thi hành.
II. MỘT SỐ KỸ NĂNG CỦA THẨM PHÁN KHI HOÀ GIẢI
Mục đích và yêu cầu của hoạt động hoà giải là:
• Mục đích: Tác động đến đối tượng hoà giải nhằm hàn gắn những mâu thuẫn giữa hai hoặc nhiều bên đương sự và tạo cơ hội, điều kiện để họ tự thương lượng với nhau giải quyết tranh chấp tại Toà án.
• Yêu cầu: Không để xảy ra dấu hiệu tổn thương tâm lý, không khí căng thẳng, thậm chí xúc phạm lẫn nhau trong quá trình hoà giải.
Để đạt được mục đích và yêu cầu của việc hoà giải, đòi hỏi người Thẩm phán phải có những kỹ năng nhất định. Đó là kỹ năng phân vai trong từng tình huống của quá trình hoà giải để đạt đến mức cao nhất vai trò của người Thẩm phán (sự uyển chuyển của vai trò mà không cứng nhắc); Kỹ năng xây dựng kế hoạch và lựa chọn các phương án hoà giải phù hợp với từng vụ án; Kỹ năng giao tiếp với các bên đương sự khi thực hiện hoà giải…
1. Về vai trò của Thẩm phán
Là Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải, phải biết phân vai:
- NGƯỜI TRUNG GIAN: Thẩm phán luôn giữ chuẩn mực là người không thuộc về một bên.
- NGƯỜI ĐIỀU ĐÌNH: Biết tăng giảm liều lượng căng thẳng hoặc mềm dẻo, duy trì mức độ trung hoà để đạt được mục đích hoà giải.
- NGƯỜI TRỌNG TÀI: Biết lắng nghe cả hai bên, chắt lọc và gợi ý để đi đến thoả thuận chung.
Tuỳ theo loại vụ án (dân sự, kinh doanh thương mại, ly hôn…) mà Thẩm phán thể hiện từ phong thái đến phương án hoà giải và xử lý tình huống trong quá trình hoà giải; các kỹ năng chắt lọc thông tin, tổng hợp, ngôn ngữ và tư duy của Thẩm phán khi hoà giải.
3. Kỹ năng giao tiếp trong hoà giải
Sau đây là một số kỹ năng giao tiếp, trong hoà giải mà Thẩm phán cần phải có:
- THƯ THÁI, TỰ TIN
- SÂU SẮC NHƯNG CHIA SẺ:
- MỀM DẺO, QUYẾT ĐOÁN ĐÚNG THỜI ĐIỂM TÁC ĐỘNG
- VÔ TƯ VÀ THÂN THIỆN:
- TẬP TRUNG VÀO MÂU THUẪN GIỮA CÁC BÊN CHỨ KHÔNG QUAN TÂM ĐẾN QUAN HỆ TỐT XẤU CỦA MỖI BÊN:
- TẬP TRUNG VÀO LỢI ÍCH CHUNG CHỨ KHÔNG PHẢI THÁI ĐỘ CƯ XỬ, Ý KIẾN CỦA MỖI BÊN VÀ ĐẶC BIỆT THẨM PHÁN KHÔNG ĐƯỢC DÙNG NHỮNG NGÔN NGỮ TẠO SỰ KÍCH ĐỘNG CHO CÁC BÊN:
- TÌM PHƯƠNG ÁN ĐỂ GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN:
- THOẢ THUẬN VỀ CÁC NGUYÊN TẮC XEM XÉT ĐÁNH GIÁ PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ MÀ HAI BÊN ĐƯA RA:
- NÓI CHUYỆN MỘT CÁCH TỰ NHIÊN MÀ NGHỀ NGHIỆP:
- KỸ NĂNG LẮNG NGHE:
- KỸ NĂNG CHẮT LỌC VÀ TỔNG HỢP:
Một số dạng câu hỏi mang tính chất gợi ý để đương sự chia sẻ nhằm giúp cho Thẩm phán tìm hướng hoà giải có hiệu quả.
• CÂU HỎI ĐÁNH GIÁ:
Loại câu hỏi thường nhằm đánh giá suy nghĩ, thái độ của người trả lời: Ví dụ: “Anh (chị) cho biết tại sao anh (chị) nuôi con lại tốt hơn?”
• CÂU HỎI MỞ:
Người nghe có thể trả lời tuỳ theo ý của mình. Ví dụ: “Khi ly hôn, anh (chị) ai là người nuôi con?”
• CÂU HỎI GỢI Ý:
Người đưa ra câu hỏi thường gợi ý sự hợp tác của người trả lời. Ví dụ: “Anh (chị) có đồng ý rằng, khi vợ chồng ly hôn, con cái không thể có trọn vẹn tình cảm yêu thương từ bố mẹ?”
• CÂU HỎI YÊU CẦU:
Người hỏi yêu cầu người trả lời hướng đúng vào vấn đề mà người hỏi quan tâm. Ví dụ: “Yêu cầu anh (chị) nói rõ lý do vì sao anh (chị) có thái độ đối với vợ (chồng) của anh (chị) như vậy?”
• CÂU HỎI ĐÓNG:
Dạng câu hỏi trả lời có hoặc không. Ví dụ: “Như vậy, anh (chị) có thừa nhận là mình có thái độ cư xử quá mức không?”
• CÂU HỎI TÁC ĐỘNG SUY NGHĨ (KIỂU SOCRATES):
Dạng câu hỏi để người được hỏi tự suy nghĩ. Ví dụ: “Với thời gian hai mươi năm sống hạnh phúc với nhau, anh (chị) suy nghĩ thế nào chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ mà đánh đổ tất cả chuỗi ngày hạnh phúc mà anh chị đã có?”
4. Một số kỹ năng về điều hành và kiểm soát phiên hoà giải
- Kiểm soát hành vi gây hấn hoặc quá khích của các bên đương sự.
- Duy trì trật tự phiên hoà giải.
( Minh hoạ các tình huống qua VIDEO để thảo luận).
III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHÚ Ý TRONG HOÀ GIẢI
1. Về xác định tư cách và kiểm tra tư cách của đương sự trước khi mở phiên hoà giải và khi tiến hành hoà giải
Yêu cầu xác định tư cách của đương sự là phải đúng, phải đủ: Tức là trước khi bắt đầu tiến hành hoà giải phải kiểm tra căn cước của những người tham gia phiên hoà giải để xác định nguyên đơn là ai, bị đơn là ai, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ai, có bao nhiêu người và phải triệu tập đầy đủ họ tham gia phiên hoà giải, tránh bỏ sót. Có thuộc các trường hợp phải có người đại diện không? Nếu có người đại diện theo uỷ quyền, thì thủ tục pháp lý về uỷ quyền đã hợp lệ chưa, phạm vi uỷ quyền như thế nào? Đối với trường hợp đại diện đương nhiên thì người đại diện đương nhiên đó có đúng pháp luật không? Thực tế có nhiều Quyết định công nhận thoả thuận của đương sự bị giám đốc thẩm huỷ vì lý do này.
Lưu ý: Từ ngày 01-01- 2012, khi giải quyết các vụ án dân sự có thể phải huỷ các quyết định hành chính cá biệt được quy định tại Điều 32a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS thì Thẩm phán phải đưa cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định đó vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
2. Về nội dung thoả thuận và lập biên bản hoà giải thành
Trong trường hợp các bên đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì biên bản phải ghi đúng, ghi đủ, ghi cụ thể và chính xác các nội dung đã thoả thuận. Đây là căn cứ để ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, tuyệt đối không được thêm, bớt những nội dung đã thoả thuận khi ra quyết định. Và chỉ được ra quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự khi họ thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
Chú ý: Trường hợp hoà giải thành, thì biên bản đó phải gửi ngay cho đương sự để đương sự nghiên cứu và thực hiện quyền thay đổi ý kiến của họ. Nội dung và hình thức biên bản hoà giải thành phải thực hiện đúng hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 của Hội đồng Thẩm phán và công văn số 107/KHXX ngày 23-6-2006 của Toà án nhân dân tối cao.
Trường hợp nội dung thoả thuận có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt, thì Thẩm phán chỉ được ra quyết định công nhận khi người vắng mặt có ý kiến đồng ý xác nhận bằng văn bản.
3. Về thời hạn ra quyết định công nhận
Theo quy định, hết thời hạn 7 ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến thì Thẩm phán mới được ra quyết định công nhận thoả thuận của đương sự. Do đó, việc xác định chính xác thời hạn đó có ý nghĩa pháp lý quan trọng. Mọi trường hợp ra quyết định sớm hơn thời hạn này đều xâm phạm đến quyền được thay đổi ý kiến của đương sự và được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
4. Về thẩm quyền và thủ tục công nhận sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà
a) Tại phiên toà sơ thẩm: Tuy về mặt thủ tục không phải là phiên hoà giải, nhưng tại phiên toà HĐXX không những tạo điều kiện cho các đương sự thực hiện quyền tự thoả thuận giải quyết vụ án của họ mà còn chủ động tác động định hướng một cách tích cực cho các bên đương sự khi họ có thiện chí giải quyết vụ án bằng thương lượng, thoả thuận. Nếu tại phiên toà các đương sự tự thoả thuận được thì biên bản phiên toà cũng phải ghi rõ và đầy đủ các nội dung mà các bên đã thoả thuận tại phòng xử án. HĐXX có thẩm quyền ra quyết định công nhận theo quy định tại Điều 220 BLTTDS và hướng dẫn tại Mục 8 phần III, Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
b) Tại phiên toà phúc thẩm: Nếu đương sự tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, thì HĐXX có thẩm quyền căn cứ Điều 270 BLTTDS, ra bản án phúc thẩm sửa án sơ thẩm và công nhận sự thoả thuận đó bằng bản án, kể cả về việc các đương sự thoả thuận với nhau về việc chịu án phí sơ thẩm. Nếu không thoả thuận được với nhau thì Toà án mới giải quyết theo quy định của pháp luật được hướng dẫn t?i Mục 5, phần III Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 4/8/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “thủ tục giải quyết vụ án tại Toà án cấp phúc thẩm” của BLTTDS.

Tư vấn:(04)7301.8886
Email:info@ipic.vn