Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015

23 /122019

Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015

Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015

1.         Bộ luật Dân sự ra đời để phục vụ cho những mục tiêu gì?

Sau 10 năm thi hành, BLDS 2005 đã bộc lộ nhiều bất cập. Những bất cập này đã được nêu cụ thể trong Tờ trình Quốc hội. Bên cạnh đó nhu cầu phát triển đất nước đòi hỏi có một khung khổ pháp lý dân sự mới và điều này được thể hiện ở hai điểm:

Thứ nhất, Chính phủ rất kỳ vọng BLDS mới sẽ là BLDS của nền kinh tế thị trường, bởi vì trong 30 năm qua đã có 3 Bộ luật Dân sự (BLDS 1995, 2005 và 2015), tức là cứ sau 10 năm là có 1 BLDS mới. Về mặt pháp điển hóa pháp luật, đây là một lỗ hổng pháp luật do sự thay đổi quá nhanh. Điều này cho thấy rằng quá trình xây dựng 3 bộ luật thực ra là Việt Nam đoạn tuyệt dần với cơ chế bao cấp và từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường. Đến BLDS 2015, Việt Nam đã cơ bản đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường. Ngược lại lịch sử, năm 1981, Ban soạn thảo BLDS 1995 được thành lập, nhưng đến 1991 mới có dự thảo đầu tiên của BLDS. Trong 10 năm liền, từ năm 1981 đến 1991, chưa có dự thảo nào. Thời kỳ này, mọi nghiên cứu, trao đổi về việc xây dựng bộ luật chủ yếu xoay quanh việc xác định quan hệ dân sự là quan hệ gì. Trong cơ chế bao cấp, có thể nói chỉ ở “chợ đen” mới xuất hiện quan hệ dân sự còn tất cả đều theo cơ chế tem phiếu. Trong khi đó, cơ chế tem phiếu không phải là quan hệ dân sự. Do vậy, việc xây dựng BLDS không thể rõ ràng là nhằm để điều chỉnh quan hệ cụ thể nào. Năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện đổi mới và công nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước và bắt đầu công nhận một số hình thức sở hữu. Do đó đã hình thành lên nền kinh tế hàng hóa và là mầm mống của quan hệ dân sự. Đến 1991, dự thảo đầu tiên ra đời. Do sự nghiệp đổi mới của Việt Nam mới chỉ bắt đầu nên ngoài việc pháp điển những thuật ngữ, các giao dịch dân sự cơ bản thì yếu tố bao cấp vẫn chi phối và sự can thiệp của Nhà nước vẫn thể hiện rõ nét trong nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã

hội. Tư tưởng cho rằng hình sự bao giờ cũng là nhất, hành chính đi đôi với hình sự và sau đó mới là dân sự còn gắn chặt trong tư tưởng lập pháp. Do đó, sự áp đặt của Nhà nước, kể cả trong dân sự cũng rất lớn. BLDS 1995 được coi là thành quả lập pháp rất lớn, nhưng dấu ấn bao cấp, dấu ấn của sự can thiệp của Nhà nước trong nội dung của bộ luật vẫn còn nhiều. Do vậy, thực chất quan hệ dân sự cũng chỉ là chuyển từ vị thế bị trói chặt sang vị thế cởi mở hơn để có sự phát triển, nhưng để phát triển theo đúng nghĩa của nó thì còn nhiều vấn đề phải bàn. Đến năm 2001, Việt Nam sửa đổi Hiến pháp 1992. Tại Hiến pháp 1992, lần đầu tiên Việt Nam khẳng định cơ chế của Việt Nam là cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (trước đây trong Hiến pháp 1992 chỉ nói là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước). Với sự ra đời của Hiến pháp 2001, Việt Nam mới có mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, BLDS 2005 đã có những bước tiến bộnhiều hơn so với BLDS 1995 và tư tưởng dân sự ban đầu được trỗi dậy và được bảo đảm thực hiện; vì vậy, BLDS 2005 đã bảo đảm cho việc thực hiện nền kinh tế thị trường.Tuy nhiên, Bộ luật này vẫn tiếp tục cần được cải thiện vì nó chưa thực sự trở thành công cụ phục vụ một cách đắc lực cho phát triển kinh tế thị trường.Ví dụ, từ BLDS 1995 đến BLDS 2005, chương sở hữu điều chỉnh tài sản và quyền sở hữu, nhưng quyền sở hữu ở đây là quyền tuyệt đối và chỉ điều chỉnh quyền sở hữu thôi. Điều này đã làm cho tài sản bị đóng băng, trong khi đó nền kinh tế thị trường vận hành rất năng động và cần có sự lưu thông của tài sản. Do vậy, chỉ chú trọng quyền sở hữu thì đồng nghĩa với việc quan hệ sở hữu chỉ được đặt trong trạng thái tĩnh, trong khi đó nền kinh tế thị trường vận hành một cách chóng mặt lại đòi hỏi tài sản phải vận hành càng nhanh càng tốt. Hạn chế của BLDS 2005 là chỉ chú ý đến quyền sở hữu, tức là quyền tuyệt đối, mà không quan tâm đến các quyền khác của người không phải là chủ sở hữu tài sản. Đây là lý do khiến việc dòng chảy về tài sản bị mắc rất nhiều. Một ví dụ khác là sự can thiệp của Nhà nước vào quan hệ dân sự thông qua các yêu cầu như: giao dịch phải được lập thành văn bản, phải công chứng, phải chứng thực, phải đăng ký, cái gì cũng phải tuân theo luật, tất cả cái gì pháp luật quy định là phải làm như vậy. Trong khi đó, pháp luật của Việt Nam rất rộng, từ cấp trung ương đến cấp xã đều có quyền thông qua pháp luật để can thiệp vào quan hệ dân sự. Do đó đã làm cho dòng chảy của quan hệ dân sự gặp nhiều vướng mắc. Quan niệm về tài sản và quan hệ sở hữu bị mắc kẹt bởi sự can thiệp của Nhà nước. Ý chí của các bên vẫn bị bó hẹp trong quy định của pháp luật. Chúng ta nói rằng Việt Nam xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà Nhà nước pháp quyền chỉ có hai nguyên tắc rất cơ bản đó là: người có quyền chỉ được làm những việc do luật định và chỉ được phép làm như vậy, còn người dân chỉ không được làm những điều luật cấm còn lại được làm tất. Đây cũng là lý do Việt Nam thường bị thua thiệt khi giải quyết tranh chấp với nước ngoài. Ví dụ, nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư vào Việt Nam thông qua người khác thì Tòa án Việt Nam xửrằng việc đầu tư đó là không hợp pháp. Đối với phạm vi áp dụng luật Việt Nam thì cách xử như vậy là đúng vì Việt Nam chỉ có luật đầu tư điều chỉnh. Nhưng khi ra trọng tài nước ngoài, việc bỏ vốn đầu tư vào 1 quốc gia thông qua một người khác là được phép bởi vì Việt Nam đã tuyên bố Nhà nước pháp quyền, tức là nhà đầu tư được làm tất cả những gì pháp luật không cấm. Trong khi pháp luật nước ta không có quy định nào cấm đầu tư thông qua người khác. Kết quả là trọng tài nướcngoài xử phía Việt Nam thua. Ví dụ này cho thấy rằng quan hệ dân sự là vấn đề tự chủ của các bên, là quyền dân chủ của con người; do đó, Nhà nước với tư cách là thiết chế công chỉ cần can thiệp để bảo vệ lợi ích công, còn lại cần tạo không gian cho các quan hệ pháp luật dân sự khác phát triển. Nếu các quy định luôn trong tình trạng thay đổi và đôi lúc Nhà nước bổ sung quy định thêm hàng rào, nhà đầu tư sẽ không thể tính toán trước và dự liệu được ý đồ của Nhà nước. Điều nay gây khó khăn rất lớn cho các hoạt động kinh doanh và các quan hệ dân sự. Do đó, BLDS 2015 ra đời đã góp phần hiện thực thêm một bước; đó là bộ luật của quan hệ thị trường.

Thứ hai, với nhu cầu xây dựng một nhà nước pháp quyền, năm 2001, Việt Nam đã sửa đổi Hiến pháp 1992 và tuyên bố Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, đó mới chỉ là tuyên bố còn nguyên tắc pháp quyền được thực thi vẫn chưa được nêu rõ. Hiến pháp 2013 đã không chỉ tuyên bố rõ ràng tại Điều 2 của Hiến pháp rằng Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền mà nguyên tắc pháp quyền còn chi phối toàn bộ Hiến pháp. Nguyên tắc này cũng đã chi phối BLDS 2015. Thực chất, Nhà nước pháp quyền là một ý tưởng rất dân chủ, nhằm bảo đảm quyền dân chủ, quyền con người. Khi nói tới Nhà nước pháp quyền, chúng ta phải thừa nhận quyền cơ bản của công dân. Quyền cơ bản của công dân chỉ bị hạn chế bởi luật trong những trường hợp cần thiết với 4 lý do: an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, lợi ích cộng đồng và sức khỏe cộng đồng. Do vậy, trong Điều 14 Hiến pháp đưa ra “8 chữ vàng” mà trong Hiến pháp đã quy định về quyền công dân, đó là: i) ghi nhận, tôn trọng; ii) bảo vệ; iii) bảo đảm. Quyền công dân chỉ bị hạn chế bởi luật do Quốc hội ban hành với 4 lý do mà Hiến pháp đã quy định. Với một tinh thần như vậy, BLDS này phải bảo đảm quyền dân sự, quyền nhân thân và quyền tài sản trong giao dịch một cách tốt nhất có thể chứ không phải người dân chỉ được thực hiện những quyền do pháp luật quy định. Với tinh thần như này, BLDS 2015 góp phần thực hiện Điều 14 của Hiến pháp theo tinh thần bảo đảm quyền dân sự, quyền con người và phần nào đó thực hiện cam kết của Việt Nam với quốc tế theo Công ước 1966 về quyền chính trị dân sự, trong đó có nêu rõ các quyền phải được ghi nhận bằng luật và bị hạn chế bằng luật.

2.         Tác động của BLDS 2015 đến giải quyết tranh chấp?

Bộ luật này đã tiếp cận với thông lệ quốc tế, tiếp cận với tư tưởng pháp quyền, và dó đó đã rất tôn trọng, đề cao ý chí thật của các bên. Điều này được thể hiện dưới các góc độ:

Thứ nhất, nguyên tắc dân sự được đặt lên hàng đầu. Những nguyên tắc đượcquy định trong BLDS2015 là những nguyên tắc pháp quyền và bao hàm hai vai trò.Thứ nhất, đó phải là những nguyên tắc thể hiện bản chất của giao dịch dân sự, của quyền dân sự. Chính vì vậy, ở BLDS 2005 đưa 10 nguyên tắc được quy định từ Điều 14 đến Điều 23 trong khi BLDS 2015 chỉ đưa 5 nguyên tắc và gói trong Điều 3 Lý do mà BLDS 2005 quy định nhiều nguyên tắc như vậy là trước đây, Việt Nam có một nền dân trí và một tư duy pháp luật dân sự chưa trọn vẹn, do vậy vừa phải nêu ra đầy đủ, vừa phải diễn giải rõ ràng nhằm tránh áp dụng sai. Việc nêu ra đầy đủ nhiều khi lại là thừa và làm loãng đi nguyên tắc thể hiện bản chất dân sự của các quan hệ dân sự và đồng thời khi các nguyên tắc này được giải thích rõ ràng, chính nguyên tắc cốt lõi lại bị mềm đi. Việc giải thích sẽ có thể dẫn đến việc giải thích vừa thiếu, vừa thừa và có thể làm cho nguyên tắc bi lạc hậu đi so với thời cuộc. Do đó, kỹ thuật lập pháp khi xây dựng BLDS 2015 là: những nguyên tắc, những vấn đề nào thực sự là hồn cốt của dân sự thì đưa vào, gồm:

- Bình đẳng: Đã là dân sự là phải bình đẳng, cho dù là Nhà nước, cá nhân hay pháp nhân thì cũng phải bình đẳng.

- Tự do ý chí, tự do thỏa thuận: Không ai được ép buộc hay làm trái với ý muốn của người ta và tự do của người ta.

- Thiện chí, trung thực.

- Tự chịu trách nhiệm.

- Thực hành quyền của mình nhưng không được làm phương hại đến lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

5 nguyên tắc chính như vậy đã thể hiện bản chất của giao dịch dân sự và có tính hướng dẫn lập pháp. Đây cũng là bộ tiêu chí để chúng ta đánh giá tất cả các quan hệ dân sự phải phù hợp với các nguyên tắc này, là căn cứ để các Thẩm phán soi chiếu và xác định giao dịch dân sự có vô hiệu hay không.

Thứ hai, trong điều kiện Nhà nước pháp quyền, đặc biệt là khi Hiến pháp 2013 đã giao cho Tòa án là cơ quan bảo vệ công lý, khi đó Tòa án là thiết chế cuối cùng để dân tìm đến, do đó Tòa án không thể từ chối giải quyết. Đây cũng là nguyên tắc được quốc tế áp dụng. Việc ghi nhận nguyên tắc này ở cả hai Bộ luật đã thể hiện tinh thần rất văn minh và rất Nhà nước pháp quyền, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trước người dân. Trước đây, nếu nguyên tắc này được ghi nhận thì sẽ vấp phải quy định của Hiến pháp trong đó quy định khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Đến nay, BLDS 2015 đã cho phép áp dụng pháp luật, không có pháp luật thì áp dụng tương tự, không có tương tự thì áp dụng nguyên tắc, không có nguyên tắc thì áp dụng lẽ công bằng, rồi án lệ. Tất cả những cái đó là quy định của pháp luật và cũng tuân theo chứ không phải không tuân theo pháp luật. Nhìn ở một góc độ khác, khi đã giao cho Tòa án trọng trách lớn phù hợp với bản chất bảo vệ công lý và phù hợp với nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền, các nhà làm luật cũng dự liệu các căn cứ để Tòa án có thể thực hiện tốt nhất cácn nguyên tắc đó. Theo nguyên tắc này, nếu không có thỏa thuận, không có pháp luật, không có tập quán, không có tương tự thì có thể áp dụng nguyên tắc. Đấy mới là đề cao vai trò của Thẩm phán. Ở các nước khi đứng trước Thẩm phán, người ta luôn thể hiện lòng kính trọng, nhưng ở Việt Nam, dường như dựa vào luật thành văn đã thành thói quen nên các cơ quan nhà nước phải ban hành nhiều hướng dẫn để cụ thể hóa pháp luật, rồi tự biến mình thành nhân vật xơ cứng. Ở nhiều quốc gia, pháp luật cũng chỉ là công thức, là nguyên tắc và các Thẩm phán, với bản lĩnh nghề nghiệp của mình, với vai trò pháp lý của mình sẽ đưa ra cách giải thích pháp luật và ban hành những phán quyết phù hợp. Bên cạnh đó, thông qua giải thích pháp luật, giải thích án lệ mà các Thẩm phán bổ sung thêm cho quy định của pháp luật để pháp luật hoàn thiện, tốt hơn cho thực tiễn cuộc sống. Vì vậy, Thẩm phán có vai trò vô cùng lớn. Do đó, các Thẩm phán của Việt Nam cần hiểu và vận dụng nhuần nhuyễn đểxác định bản chất của giao dịch dân sự, từ đó đủ khả năng giải quyết tất cả các vụ việc mà nhân dân yêu cầu theo tinh thần mới của Hiến pháp, của Bộ luật Tố tụng dân sự và Bộ luật Dân sự. Trong số 10 nguyên tắc của BLDS 2005, các nguyên tắc không được đưa vào thành nguyên tắc cơ bản trong BLDS 2015 bao gồm: (i) “các nguyên tắc khác” thuộc các chế định tương ứng; (ii) nhóm các nguyên tắc thể hiện chính sách nhà nước, ví dụ như “khuyến khích hòa giải” là chính sách của Nhà nước. Trong số 5 nguyên tắc của BLDS 2015, một nguyên tắc rất quan trọng quy định tại khoản 2 Điều 3 là nếu giao dịch dân sự được xác lập đúng pháp luật mà không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội thì có hiệu lực ràng buộc đối với các bên và bên thứ ba phải thừa nhận. Điểm đặc biệt chú ý là quy định trong BLDS mới chỉ là môi trường, là nguyên tắc, còn thỏa thuận của các bên bảo đảm các nguyên tắc đó mới là luật ràng buộc các bên và là luật cho các thiết chế thi hành.

3.         Mối quan hệ giữa ý chí của các bên và sự can thiệp của Nhà nước BLDS2015 thực hiện rất tốt và quy định theo hướng đề cao thỏa thuận của các bên.

Trong quan hệ pháp luật, chỉ đối với các các điều cấm và những thứ là điều kiện tiên quyết để bảo vệ lợi ích công, Nhà nước mới nên đóng vai trò là thiết chế công bảo vệ lợi ích công. Nếu Nhà nước là thiết chế công nhưng vì mưu cầu lợi ích cá nhân mà can thiệp vào quan hệ dân sự thì sẽ tạo ra sự méo mó không cần thiết. Vì vậy, cái gì luật quy định cứng phải theo thì đó là điều kiện và trong quá trình lập pháp Nhà nước phải chứng minh rằng điều cấm đó, điều hạn chế đó là vì lợi ích công và cần thiết. Theo BLDS 2015, trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì mới áp dụng pháp luật chứ không phải Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đương nhiên áp dụng pháp luật. Trong trường hợp vì mục đích bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích công, việc áp dụng pháp luật là đương nhiên, còn trong trường hợp đối với lợi ích riêng, tư tưởng bao trùm vẫn đề cao ý chí, thỏa thuận của các bên. Trong nhiều trường hợp, luật quy định rằng một quy định cụ thể nào đó sẽ được áp dụng trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, nhưng nếu các bên không thỏa thuận trong hợp đồng thì thỏa thuận đó cũng không được áp dụng được. Ví dụ, trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho phép các bên thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại, nhưng nếu các bên không thỏa thuận thì không áp dụng thỏa thuận đó để giải quyết. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận nhưng chưa cụ thể thì mới áp dụng pháp luật để quy định mức bồi thường cụ thể. Như vậy, thỏa thuận của các bên trở thành tiền đề để áp dụng pháp luật. Ví dụ, trước đây việc áp dụng thời hiệu là thẩm quyền của Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng BLDS 2015chỉ đưa ra quy định thời hiệu để các vụ việc dân sự có điểm dừng, nhưng việc có yêu cầu áp dụng thời hiệu hay không là quyền của các đương sự. Tòa án không thể tự áp dụng thời hiệu để đánh mất lợi ích của người khác mà không cân nhắc đến ý chí của các bên. Pháp luật các nước cũng không cho phép như vậy và đó mới đúng là bản chất của dân luật. Sự can thiệp của Nhà nước thể hiện ở 2 nội dung: Một là, quy định về hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Trước đây, điều kiện về hình thức do pháp luật quy định. Các văn bản pháp luật từ trung ương đến địa phương đưa ra các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mặc dù ý chí của các bên là thật và thực hiện đúng nguyên tắc, nhưng lại phụ thuộc vào điều kiện về hình thức do Nhà nước định ra. Trong một vụ việc, hai bên giao kết hợp đồng bảo đảm, nhưng vì không đăng ký giao dịch bảo đảm theo Nghị định 83/2010/NĐ-CP nên giao dịch đó bị tuyên bố vô hiệu vì đăng ký giao dịch bảo đảm là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Trong nhiều trường hợp người ta lợi dụng việc pháp luật quy định nghĩa vụ của các bên phải thực hiện các yêu cầu về hình thức của giao dịch để tuyên bố giao dịch vô hiệu và làm rối loạn quan hệ dân sự, khiến cho tính ổn định của quan hệ dân sự không được cao. Trước đây cái gì pháp luật đã quy định là điều kiện có hiệu lực của giao dịch thì phải chấp hành và giao dịch chỉ có hiệu lực từ khi thực hiện xong điều kiện đó. Đến BLDS 2015 đã thay đổi, điều kiện có hiệu lực của giao dịch chỉ được quy định tại luật vì đây là quyền dân sự. Chúng ta thấy rõ sự khác biệt giữa việc quy định điều kiện trong “pháp luật” và trong “luật”. Về phạm vi, nếu được quy định trong luật thì sẽ hẹp, do đó số lượng điều kiện sẽ rất ít; nhưng nếu điều kiện được quy định trong pháp luật nói chung thì rất rộng.

Hai là, trước đây pháp luật yêu cầu một số giao dịch phải được lập bằng văn bản, phải công chứng, phải chứng thực, phải đăng ký thì mới có hiệu lực pháp luật và đây là điều kiện về hình thức để giao dịch có hiệu lực. Lần này, với tư tưởng đề cao ý chí của các bên, chỉ trong trường hợp luật định rõ giao dịch phải được lập bằng văn bản, phải đăng ký, phải công chứng hoặc phải chứng thực thì mới phải tuân theo. Đặc biệt, trong trường hợp có khiếm khuyết về hình thức, thì vẫn có cơ chế để xử lý, tạo điều kiện cho các bên hoàn thiện hình thức của giao dịch.

Ví dụ 1: Theo Luật công chứng, Công chứng viên giống như Thẩm phán phòng ngừa có nhiệm vụ đảm bảo giá trị pháp lý của giao dịch dân sự, trong khi đó Thẩm phán và Hội thẩm lại không có quyền quyết định như công chứng viên. Nếu Thẩm phán đã xem xét đầy đủ quy định của pháp luật và ý chí của các bên thì việc phải phụ thuộc vào Công chứng viên để xác định hiệu lực của hợp đồng có còn cần thiết không? Do đó, trong tương lai, có thể cân nhắc việc coi công chứng chỉ phải bắt buộc và cần thiết trong trường hợp vì lợi ích công để bù đắp việc văn bản pháp luật chưa có tính pháp điển hóa cao, dân trí chưa cao, chưa có hệ thống trợ giúp, tư vấn pháp luật. Các trường hợp còn lại chỉ cần tuyên bố giá trị pháp lý của công chứng, người dân hoàn toàn có quyền lựa chọn việc sử dụng công chứng, nếu đã yên tâm với các thủ tục và quy định của pháp luật thì không cần thiết, như vậy sẽ giúp giảm chi phí tuân thủ pháp luật.

Ví dụ 2: vấn đề đăng ký giao dịch bảo đảm. Đăng ký giao dịch bảo đảm là đăng ký đối kháng, không phải đăng ký để phát sinh quyền. Cần thiết có quy định về việc đăng ký, nhưng đăng ký phát sinh quyền và đăng ký đối kháng khác nhau.Trong dân sự càng ít can thiệp càng tốt, còn biện pháp an toàn mang tính dịch vụ thì các bên làm theo lợi ích chính và phù hợp với ý chí của họ, khi đó mới là nền kinh tế thị trường thực sự.

4.         Tài sản, quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản

BLDS 2015 có nhiều quy định mới theo hướng ghi nhận và bảo đảm đầy đủ hơn các quyền về tài sản; vì vậy, nó làm cho quan hệ tài sản và quan hệ sở hữu ở trạng thái vận động và an toàn hơn.

a)         Tài sản

Có hai điểm mới trong quy định về tài sản có thể tác động rất nhiều đến giao dịch dân sự. Thứ nhất, luật ghi nhận quyền sở hữu là quyền tài sản bởi vì BLDS 2015 coi tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Một số văn bản trước đây có đề cập đến quyền tài sản, nhưng chưa quy định ở luật gốc. Lần đầu tiên nội dung này được quy định một cách minh bạch. Ví dụ, có quyền sử dụng đất tức là có tài sản. Tất nhiên đây là chế định phức tạp, bởi vì đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, người dân chỉ có một số quyền.

Việc tuyên bố quyền sử dụng đất được bảo hộ đã được hiến định, nhưng tuyên bố một cách rất minh bạch về quyền sử dụng đất là quyền tài sản trong BLDS với tư cách là luật chung, luật nền cho các quan hệ dân sự thì đây là lần đầu tiên.

b)         Quyền sở hữu

Nếu chỉ đề cập đến quyền sở hữu đơn thuần thì chỉ nhằm bảo vệ quyền của chủ sở hữu và như thế không phù hợp với nền kinh tế thị trường bởi tài sản là của chủ sở hữu thật, nhưng nhiều người có quyền hợp pháp. Quyền của chủ sở hữu chắc chắn là quyền tuyệt đối, không ai có thể bác bỏ được. Nhưng nếu chỉ dừng ở quy định này, chắc chắn quan hệ tài sản không được vận động mạnh mẽ. Do đó, BLDS 2015 đưa ra quy định về vật quyền, tức là quyền đối với tài sản, tài sản đó có thể thuộc sở hữu của người khác, nhưng là quyền hợp pháp. Với quyền này, chủ thể của quyền được trực tiếp truy đòi tài sản đó, dù tài sản đó do ai nắm giữ và ở bất kỳ đâu mà không phải thông qua người khác. Như vậy, bảo vệ vật quyền không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ quyền của chủ sở hữu mà cả quyền của người khác không phải là chủ sở hữu nhưng có quyền đối với tài sản của chủ sở hữu. Tuy nhiên, khi xây dựng BLDS 2015, quan điểm này chưa nhận được sự đồng thuận cao nên cách tiếp cận về vật quyền và trái quyền không được đưa vào rõ ràngnhưng tư tưởng “vật quyền” vẫn được sử dụng, tức là bảo vệ quyền sở hữu,

quyền và lợi ích hợp pháp khác với tài sản. 

c)         Quyền khác đối với tài sản

Vật quyền bao gồm quyền của chủ sở hữu, quyền của người khác đối với tài sản và hai quyền này hưởng chung một cơ chế bảo vệ, đó là có quyền truy đòi tài sản tới cùng một cách trực tiếp. Trong hai quyền đó, quyền của chủ sở hữu vẫn là quyền tuyệt đối; quyền tài sản của người không phải chủ sở hữu là quyền tương  đối. Trong quá trình xây dựng BLDS 2015, một số ý kiến đồng ý với cách tiếp cận này, nhưng đồng thời vẫn coi trọng quyền sở hữu. Ví dụ, khi đã đưa tài sản ra thế chấp thì chủ sở hữu vẫn là chủ sở hữu tài sản đó, còn người được thế chấp chỉ được quyền đối với tài sản đó thôi. Tại sao lại không đặt vấn đề cho họ bán tài sản đó mà không cần có sự đồng ý của người nhận thế chấp? Quy định này có thể dẫn tới một loạt các vấn đề pháp lý khác, giúp xử lý được tài sản thế chấp và giảm nợ xấu tại các ngân hàng. Hiện nay, khi người dân đi vay ngân hàng, ngân hàng giữ giấy chứng nhận quyền sở hữu, chủ sở hữu không thể thực hiện được quyền của mình và coi như mất quyền luôn vì thực tế là không thể định đoạt được tài sản của mình. Nhưng nếu để ngân hàng bán tài sản mà không cần sự đồng ý của người thế chấp thì người mua tài sản đó có vai trò gì? Khi soạn thảo BLDS 2015, có quan điểm cho rằng cần phải i) công khai tài sản đang thế chấp, ai đồng ý mua thì mua, trong trường hợp đó điều kiện mua khác và giá mua cũng khác so với tài sản đó nếu không phải là tài sản thế chấp; ii) ưu tiên thanh toán cho người nhận bảo lãnh từ nguồn tiền bán tài sản; iii) trong trường hợp chưa thanh toán thì người mua tài sản đó trở thành người bảo lãnh. Sau đó, chúng ta sửa quy định về thế chấp theo hướng không những dùng tài sản của mình để thế chấp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình mà còn dùng tài sản của mình để thế chấp bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người khác. Tuy nhiên, quan điểm này cũng tạo ra những rủi ro và nhóm các Ngân hàng không ủng hộ. Do vậy, Ban soạn thảo vẫn giữ như cũ, đó là khi xử lý tài sản thế chấp phải được sự đồng ý của người nhận thế chấp. Khái niệm “vật quyền” thường gắn liền với khái niệm “trái quyền”. Trong trái quyền, mặc dù chủ thể có quyền nhưng muốn thực hiện phải thông qua người khác và vì vậy ở đây có sự chuyển đổi lẫn nhau, chuyển hóa lẫn nhau. Vì có tư tưởng vật quyền này, BLDS 2015 có hai điểm quy định về chiếm hữu. Về ngôn ngữ ngữ chỉ thay 2 từ (BLDS 2005 quy định “chiếm hữu là nắm giữ và quản lý tài sản”, BLDS 2015 chỉ còn là “nắm giữ và chi phối tài sản”). Đó là nội hàm về khái niệm. Nhưng chiếm hữu trong BLDS 2015 có hai loại hình là chiếm hữu trạng thái và chiếm hữu với tư cách là nội dung của vật quyền.

- Chiếm hữu trạng thái: Lần đầu tiên pháp luật quy định về chiếm hữu với tư cách là một trạng thái vì việc “nắm giữ và chi phối” một vật là “trạng thái”. Việc công nhận thực tế đang chiếm hữu giúp xử lý được nhiều vấn đề khác. Do vậy có quy định chiếm hữu ngay tình, chiếm hữu không ngay tình, chiếm hữu liên tục, công khai để chúng ta xử lý quyền lợi của các bên, ví dụ trong trường hợp chiếm hữu theo thời hiệu. Quan trọng nhất, quy định này giúp Thẩm phán đưa ra những suy đoán phù hợp. Một người đang chiếm hữu phải được suy đoán là chiếm hữu có căn cứ. Nếu người khác cho rằng người đang chiếm hữu không có quyền chiếm hữu thì phải chứng minh. Một chế định mang trạng thái chiếm hữu và quy định được những nguyên tắc suy đoán góp phần rất lớn trong việc ổn định quan hệ dân sự.

- Chiếm hữu với tư cách là nội dung của vật quyền: đây là chiếm hữu với tư cách là một nội dung trong quyền sở hữu, tức là chiếm hữu của chủ sở hữu.

5.         Hình thức sở hữu

BLDS 2005 quy định 6 hình thức sở hữu. BLDS 2015 chỉ quyền quy định 3 hình thức sở hữu. Tuy nhiên, về bản chất, không có gì thay đổi. Sở hữu về tài sản bao gồm 3 quyền: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Hình thức sở hữu chỉ là phương thức để vận hành quyền sở hữu trong cuộc sống của chủ thể sở hữu, tức là nhằm phân biệt các hình thức sở hữu thông qua địa vị pháp lý của chủ sở hữu. Do đó, cần có sự phân biệt giữa hình thức sở hữu của Nhà nước, cá nhân, tập thể, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội… Để khái quát hơn và quy định đúng hơn nhằm phân biệt các hình thức sở hữu thông qua phương thức thực hiện quyền, BLDS phân chia làm 3 hình thức sở hữu: i) sở hữu toàn dân; ii) sở hữu chung và

iii) sở hữu riêng. Ba hình thức sở hữu này có phương thức thực hiện quyền sở hữu có sự khác biệt và cũng được nhiều BLDS trên thế giới sử dụng cách thức phân biệt này. Còn các quyền khác đối với sở hữu, BLDS cũng đã quy định từ trước, tức là ngoài quyền của chủ sở hữu còn có quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản của người khác. Thứ nhất là quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền

kề. Quyền này xuất phát từ vị trí tự nhiên mà buộc phải sử dụng bất động sản liền kề mới khai thác được tài sản của mình, như lối đi, đường dây, thoát nước v.v. Ví dụ: trước đây người nông dân không chịu vào hợp tác xã, đất của người đó bị vây quanh bởi đất hợp tác xã nên hợp tác xã không cho đi qua, lấy đó làm sức ép để buộc họ phải vào hợp tác xã. Thứ hai, quyền hưởng dụng. Quyền này đã có từ lâu

với nghĩa được sử dụng và hưởng lợi từ tài sản đó. Thứ ba, quyền bề mặt, tức là quyền xây dựng và canh tác trên đất, mặt nước thuộc quyền sở hữu của người khác. Chính vì có quy định về những quyền không phải là của chủ sở hữu đối với tài sảnnên chúng ta xử lý được rất nhiều vấn đề đặt ra của nền kinh tế thị trường.

6.         Cơ chế bảo hộ quyền dân sự

BLDS 2015 là một thành công khi đặt ra được một cơ chế để bảo vệ người có quyền dân sự. Trước hết, người có quyền có thể tự mình thực hiện các biện pháp tự bảo vệ; trong trường hợp không tự bảo vệ được thì có quyền yêu cầu cơ chế khác để bảo vệ. Trước đây chúng ta rất coi trọng quyền và lợi ích dân sự bằng con đường hành chính và thậm chí cho phép các bên lựa chọn hoặc là con đường hành chính hoặc là con đường tư pháp. Trong nhiều trường hợp, chỉ khi không giải quyết được bằng con đường hành chính thì mới chuyển sang thủ tục tư pháp. Theo tờ trình Quốc hội về BLDS, chúng ta bảo đảm quyền khởi kiện ra tòa án, nhưng cũng sử dụng các cơ chế khác để giải quyết tranh chấp. Thực tế chứng minh rằng quyền dân sự được giải quyết bằng con đường hành chính chỉ trong những trường  hợp luật định, tức là hành chính không thể can thiệp vào bất cứ lúc nào. Con đường hành chính có thể nhanh, nhưng không dân chủ, có thể mang tính áp đặt và do đó có thể vi phạm quyền dân chủ. Để hạn chế việc này, BLDS 2015 quy định việc bảo vệ quyền dân sự theo thủ tục hành chính chỉ được thực hiện trong trường hợp luật định, tức là chỉ có Quốc hội mới có thẩm quyền quy định các trường hợp được tiến

hành theo thủ tục hành chính và phải được quy định trong luật. Khi quyền dân sự bị xâm phạm, về nguyên tắc phải giải quyết bằng con đường Tòa án và Tòa án có quyền xem xét quyết định hành chính để bác, có thể hủy bỏ quyết định hành chính. Một điểm quan trọng nữa trong BLDS 2015 là quy định Tòa án không có quyền từ chối giải quyết vụ việc. Quan điểm này xuất phát từ nguyên tắc Tòa án là địa chỉ cuối cùng để thực hiện công lý, đồng thời mở ra cánh cửa để Thẩm phán có đủ điều kiện để xét xử các loại vụ việc.

7.         Thẩm quyền của Tòa án đối với việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi BLDS 2015 mở rộng thẩm quyền của Tòa án đối với việc giải quyết yêu cầu sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi.

 Về nguyên tắc, hợp đồng là thỏa thuận của hai bên và là luật để hai bên thực hiện. Nhưng khi có biến động lớn, hoàn cảnh thay đổi cơ bản làm lợi ích giữa hai bên thay đổi và việc tiếp tục thực hiện sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên thì theo yêu cầu của một hoặc các bên Tòa án có thể xem xét việc sửa đổi hợp đồng. Điều 420 BLDS quy định rõ các điều kiện gồm: i) hoàn cảnh thay đổi; ii) đó là hoàn cảnh khách quan; iii) với hoàn cảnh như vậy thì sẽ không ký hợp đồng với những điều kiện như đã thỏa thuận; iv) trong hoàn cảnh đó nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng như đã thỏa thuận sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên; v) bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp để vượt qua hoàn cảnh đó nhưng không thể ngăn chặn thiệt hại. Trong trường hợp này, bên có quyền lợi bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán. Nếu không đạt được thỏa thuận, một bên có quyền yêu cầu tòa án hủy hoặc sửa đổi hợp đồng. Đây là thẩm quyền mới được giao cho Tòa. Tuy nhiên, BLDS cũng chỉ rõ rằng việc hủy hợp đồng chỉ được thực hiện trong trường hợp việc hủy hợp đồng mang lại nhiều lợi ích hơn nhằm tránh sự tùy tiện khi hủy hợp đồng. Về cơ bản, trong trường hợp này thường là hủy hợp đồng, nhưng nếu việc sửa hợp đồng có chi phí và lợi ích mang lại tốt hơn thì tiến hành sửa hợp đồng. Tất cả những điểm trên đây cho thấy BLDS 2015 theo tinh thần đề cao ý chí của các bên và là tinh thần xuyên suốt của cả Bộ luật. Thẩm phán phải theo tuân theo pháp luật, nhưng trong dân sự, phải chú ý rằng cần luôn đề cao ý chí của các bên.

Tác giả: Phó Giáo sư Hoàng Thế Liên

 

THÔNG TIN LIÊN HỆ

  • Trụ Sở: Phòng 401, tòa nhà văn phòng 169 Nguyễn Ngọc Vũ, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội. Chi nhánh TP HCM: Tầng 8 tòa nhà Thủy Lợi, số 102 Nguyễn Xí, phường 26, quận Bình Thạnh, Tp Hồ Chí Minh.
  • (04) 7301.8886 - (04) 7302.8886
  • info@ipic.vn ; trinhduclawyer@gmail.com
  • Mobile: 0936.342.668

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.