Bảo vệ quyền lợi cho người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

10 /052018

Bảo vệ quyền lợi cho người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

Quyền của người thứ ba ngay tình được quy định xuyên suốt từ Bộ Luật Dân sự 1995, 2005 và Bộ Luật dân sự 2015. Theo đó Bộ luật dân sự 2015 đã có quy định tiến bộ vượt bậc về quyền của người thứ ba ngay tình phù hợp với nền kinh tế thị trường. Chúng ta cùng làm rõ những nội dung sau đây để chứng minh nhân định trên.

I. Quy định của Bộ Luật Dân sự 2015 liên quan đến quy định chiếm hữu ngay tình:

1.1 Chiếm hữu ngay tình là gì?

Theo khoản 1 điều 179 Bộ Luật dân sự 2015 chiềm hứu là: "Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản." đồng thời theo quy định tại điều 180 bộ luật dân sự 2015 chiếm hữu ngay tình là " việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu."

Có thể nói việc đưa ra khái niệm như trên là một bước tiến của bộ Luật dân sự 2015, trước đây bộ luật dân sự 2005 thậm chí chưa có khái niệm này mà chỉ nêu đặc điểm tính chất của nó.

Cụ thệ theo điều 189 Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình.

"Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại Điều 183 của Bộ luật này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.

Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là người chiếm hữu mà không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật."

Như vậy với quy định như điều 189 bộ luật dân sự 2005 thì được hiểu là chiếm hữu ngay tình là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. Điều này theo chúng tôi là không phù hợp. Vì thực chất chiếm hữu ngay tình là chiếm hữu có đầy đủ căn cứ pháp lý và có hiệu lực nó thỏa mãn các quy định về giao dịch dân sự hợp pháp.

Bộ luật dân sự 2015 đã định nghĩa lại "Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.", với quy định như trên đã khẳng định một điều chiếm hữu ngay tình không phải là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, đồng thời nhấn mạnh vào ý chí niềm tin của người chiếm hữu, hay nói cách khác trong một hoàn cảnh như vậy một người bình thường họ sẽ tin rằng mình có quyền đối với tài sản đó.

Như vậy điều 180 bộ luật dân sự 2015 đã quy định chiếm hữu ngay tình "là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu" quy định này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong, là cơ sở để bảo vệ quyền và nghĩa vụ của người chiếm hữu ngay tình trong bộ luật dân sự 2015.

Hơn nữa theo quy định tại điều 184 Bộ Luật Dân sự suy đoán về quyền và tình trạng của người chiếm hữu.

"1. Người chiếm hữu được suy đoán là ngay tình; người nào cho rằng người chiếm hữu không ngay tình thì phải chứng minh.

2. Trường hợp có tranh chấp về quyền đối với tài sản thì người chiếm hữu được suy đoán là người có quyền đó. Người có tranh chấp với người chiếm hữu phải chứng minh về việc người chiếm hữu không có quyền.

3. Người chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai được áp dụng thời hiệu hưởng quyền và được hưởng hoa lợi, lợi tức mà tài sản mang lại theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan."

Đây là một quy định mới của bộ Luật Dân sự 2015 theo đó người chiếm hữu luôn suy đoán là ngay tình và họ không có nghĩa vụ chứng minh họ chiếm hữu ngay tình. Trách nhiệm chứng minh thuộc về bên cho rằng họ không chiếm hữu ngay tình. Trong trường hợp có tranh chấp nghĩa vụ chứng minh cũng thuộc về bên tranh chấp với người chiếm hữu.

Mặt khác cũng theo đó tại Điều 181 Bộ Luật Dân sự quy định chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.”

Nói cách khác là người chiếm hữu tự mình nhận thấy mình không có quyền đối với tài sản chiếm hữu, hoặc pháp luật bắt buộc phải biết việc đó. Việc mình biết ở đây được hiểu là người chiếm hữu bằng nhận thức bình thường của mình họ thấy việc chiếm hữu như vậy không có quyền. Tuy nhiên như chúng ta biết việc chứng minh không ngay tình là trách nhiệm của bên cho rằng người chiếm hữu họ chiếm hữu không ngay tình, nên quy định này chỉ mang tính định hướng. Còn đối với quy định buộc phải biết cái này phải được pháp luật quy đinh rõ ràng theo từng trường hợp cụ thể

1.2 Bảo vệ quyền lợi cho người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.

Một trong nhưng điểm mới của bộ luật dân sự năm 2015 là bảo vệ quyền của người chiếm hữu ngay tỉnh khi hợp đồng giao dịch dân sự vô hiệu.

Theo quy định tại điều 133 Bộ Luật Dân sự năm 2015 thì:

"Bảo vệ quyền lợi cho người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.

1. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167 của Bộ luật này.

2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.

Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.

3. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại."

Với quy định như trên ta thấy rằng khoản 1 điều 133 Bộ Luật Dân sự năm 2015 không gì mới so với quy định của Khoản 1 điều Điều 138 bộ luật dân sự 2005 " Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 257 của Bộ luật này" . Lý do điều 167 Bộ luật dân sự 2015 và điều 257 Bộ Luật dân sự 2005 cũng giống nhau.

Điểm tiến bộ nằm ở chính khoản 2 điều 167 của bộ Luật Dân sự 2015. Tại khoản 2 có hai điểm mới đó là : Thứ nhất không mặc nhiên cói giao dịch với người thứ ba ngay tình bị vô hiệu nếu tài sản được đăng ký mà người thứ 3 ngay tình dựa vào tài sản đăng ký của người giao dịch để thực hiện giao dịch đó thì không bị vô hiệu. Như vậy có thể khẳng định là giao dịch đối với bên thứ 3 ngay tình theo quy định của Luật dấn sự 2015 không mặc nhiên vô hiệu. Khác với quy định 2015 đương nhiên được hiểu là vô hiệu vì không có căn cứ pháp luật.

Một phần quy định phần sau khoản 2 điều 133 Bộ luật dân sự 2015 quy định "Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa." Như vậy nội dung này gần như tương tự với quy định tại khoản 2 điều 257 của bộ luật dân sự năm 2005.

Tóm lại Bộ luật dân sự 2015 không mặc nhiên xem giao dịch với người thứ ba ngay tình là vô hiệu đồng thời đối với tài sản giao dịch chỉ cần quy định có đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền là giao dịch đó không vô hiệu. Khác với quy định của bộ luật dân sự 2005 bắt buộc phải có quyền quyết định hoặc bản án của cơ quan có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu đối với tài sản của bên giao dịch với người thứ ba ngay tình. Tuy nhiên cả bộ luật 2015 và 2005 đều thừa nhận chỉ những giao dịch của người thứ ba ngay tình đáp ứng được các điều kiện trong điều luật thì mới không bị vô hiệu. Hay nói cách khác không phải bất kỳ giao dịch với người thứ ba ngay tình nào cũng có hiệu lực.

Mặt khác chu ta hiễu rằng trong trường hợp giao dịch với người thứ ba ngay tình không đáp ứng các điều kiện trên để có hiệu lực thì giao dịch đó vô hiệu. Việc giao dịch đó vô hiệu không có nghĩa là người thứ ba ngay tình không được pháp luật bảo vệ. Mà pháp luật bảo vệ quyền người thứ ba ngay tình bằng quy định giải quyết hợp đồng vô hiệu và bồi thường thiết hại do lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu. Nói cách khác điều 133 bộ luật dân sự 2015 là một cách để bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình chứ không phải là cách duy nhất bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình.

Trong khoản 3 cũng khẳng định "Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại." Với quy định tại khoản 3 này vừa khẳng định cách rõ ràng là chủ sở hữu đã mất quyền đòi lại tài sản thuộc sở hữu của mình đồng thời hướng dẫn chủ sở hữu bảo vệ quyền của mình bằng cách là yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên theo quy định tại khoản ba điều 133 này thì có yếu tố "yêu cầu chủ thể có lỗi" dẫn đến việc giao dịch với người thứ ba phải hoàn trả. Theo quan điểm thì xác đĩnh lỗi trong trường hợp này là không cần thiết.

1.3        Trong trường hợp nếu giao dịch dân sự với người chiếm hữu ngay tình bị vô hiệu thì pháp luật cũng có quy định bảo vệ quyền của người chiếm hữu ngay tình.

Cụ thể theo quy định của điều 131 Bộ Luật dân sự 2015 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu.

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.”

Nói như vậy để thấy răng trong mọi hoàn cảnh người thứ ba ngay tình luôn được pháp luật bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của mình, tuy nhiên chúng ta lưu ý rằng quyền người thứ ba ngay tình phải được đặt bên cạnh các quyền khác của chủ sỡ hữu, việc bảo vệ quyền chiếm hữu ngay tình không làm mất đi, hay mâu thuẩn với quyền của chủ sở hữu. (Chúng tôi sẽ có bài viết chi tiết hơn về việc giải quyết hậu quả giao dịch dân sự vôn hiệu).

II. Đề làm rõ hơn nội dung bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu thì chúng ta xem xét nội dung góp ý dự thảo điều 167 Bộ Luật Dân sự 2015 của Ông Tưởng Duy Lượng, - Trọng Tài Viên VIAC.

Tham luận 3: Bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự bị vô hiệu trong dự thảo Bộ luật Dân sự

Người trình bày: Tưởng Duy Lượng, TTV VIAC

1- Quy định về bảo vệ người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự

Vấn đề bảo vệ người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự đã được quy định tại Điều 147 Bộ luật Dân sự năm 1995.

Điều 147 quy định: “Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu, nhưng tài sản giao dịch đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình, thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực; nếu tài sản giao dịch bị tịch thu, sung quỹ nhà nước hoặc trả lại cho người có quyền nhận tài sản đó, thì người thứ ba có quyền yêu cầu người xác lập giao dịch với mình bồi thường thiệt hại”. Quy định nói trên mới chỉ bảo vệ có tính nguyên tắc người thứ ba ngay tình theo hai khả năng như nhau đó là được công nhận giao dịch, được sở hữu tài sản đó; không được công nhận giao dịch, được bồi thường thiệt hại. Các quy định đang nghiêng về bảo vệ tuyệt đối chủ sở hữu.

Bộ luật Dân sự năm 2005 đã có bổ sung tương đối đậm nét về việc bảo vệ người thứ ba chiếm hữu ngay tình trong các Điều 138, 256, 257, 258 Bộ luật Dân sự.

Điều 138. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

1. Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 257 của Bộ luật này.

2. Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa”.

Điều 256. Quyền đòi lại tài sản

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này. Trong trường hợp tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng Điều 257 và Điều 258 của Bộ luật này.

Điều 257. Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình

Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.

Điều 258. Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình

Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản, trừ trường hợp người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa”.

Trong các quy định nói trên việc bảo vệ người thứ ba ngay tình được thể hiện đặc biệt rõ trong trường hợp quy định tại Điều 138, Điều 258 Bộ luật Dân sự, đó là “người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản, nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa”. Trước khi có quy định này mọi giao dịch thuộc các trường hợp nói trên đều bị vô hiệu, người thứ ba ngay tình không được bảo vệ.

2- Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự

Thực tiễn áp dụng các quy định Bộ luật Dân sự năm 2005 về người thứ ba chiếm hữu ngay tình thông qua giao dịch dân sự, tác giả nhận thấy những tài sản thuộc đối tượng giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu, đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì Tòa án vẫn công nhận giao dịch với người thứ ba, trừ trường hợp người thứ ba nhận tài sản không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản (người không phải là chủ sở hữu đã tặng cho tài sản) hoặc đó là tài sản bị lấy cắp, bị mất…

Đối với động sản, hoặc bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu thực tiễn xét xử gặp các trường hợp sau đây:

- Trường hợp người thứ ba ngay tình khi mua tài sản qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người thứ ba theo bản án, quyết định đang có hiệu lực pháp luật họ là chủ sở hữu, nhưng sau bản án, quyết định đó bị hủy, sửa thì Tòa án áp dụng Điều 258 Bộ luật Dân sự công nhận giao dịch đó là hợp pháp, bảo vệ người thứ ba ngay tình. Thực tiễn áp dụng điều 258 không có vướng mắc gì.

- Tài sản chung vợ chồng, nhưng giấy tờ (giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng) đứng tên một người và người đã đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đã đem tài sản đó bán, chuyển nhượng cho người thứ ba hoặc đem thế chấp, bảo lãnh. Khi tranh chấp xảy ra tuyệt đại đa số trường hợp hai vợ chồng đề nghị Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu và Tòa án xét xử đã chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện. Cũng có một số ít Tòa án cấp sơ thẩm hoặc phúc thẩm tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng chỉ vô hiệu một phần (phần của người vợ hoặc người chồng không tham gia giao dịch), nhưng nếu có khiếu nại theo trình tự giám đốc thẩm thì bản án, quyết định đó bị kháng nghị. Trừ trường hợp tuy một bên đứng ra bán, chuyển nhượng để phục vụ nhu cầu cấp bách: chữa bệnh, hoặc sau khi bán bên kia biết mà không phản đối thì Tòa án công nhận hợp đồng, bảo vệ người thứ ba ngay tình.

- Tài sản là di sản của đồng thừa kế, tài sản thuộc sở hữu chung nhưng giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đứng tên một người và người đứng tên trên giấy tờ đứng ra bán, chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố… Sau khi bán, chuyển nhượng… người mua đang làm thủ tục giấy tờ sở hữu hoặc đã làm xong thủ tục giấy tờ, người mua đã đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng thì các đồng thừa kế, đồng sở hữu khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu. Tòa án xét xử chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện. Trong trường hợp này người thứ ba ngay tình không được bảo vệ thỏa đáng.

- Tài sản (chủ yếu là nhà, đất) đứng tên hộ gia đình nhưng một hoặc một số người trong hộ gia đình đứng ra bán, chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh… dẫn đến tranh chấp thì người thứ ba ngay tình lĩnh đủ. Trong thực tế, đa phần người thứ ba chiếm hữu ngay tình không thể biết hộ gia đình gồm những ai. Do các thành viên trong hộ gia đình không tham gia đầy đủ trong hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh… Do đó, khi các thành viên này khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch, hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu, Tòa án đã chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện.

- Tài sản của chủ sở hữu nhưng do người khác đứng tên hộ và người này đem bán, chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh… chủ sở hữu tài sản đó khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng, giao dịch đó vô hiệu, Tòa án đã xét xử chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện. Người thứ ba ngay tình cũng không được bảo vệ.

- Chủ sở hữu ủy quyền cho một người có quyền thế chấp, bảo lãnh, chuyển quyền sử dụng, nhưng nội dung thể hiện trên giấy ủy quyền không thật rõ nên có thể giải thích khác nhau. Người được ủy quyền đã đem tài sản đó đi thế chấp, bảo lãnh hoặc chuyển nhượng. Sau đó xảy ra tranh chấp chủ sở hữu khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố các giao dịch đó vô hiệu.

- Tài sản của chủ sở hữu bị mất cắp, cướp… tài sản đã được chuyển nhượng qua một hoặc nhiều người và những người này đã đứng tên giấy tờ sở hữu (có hai dạng xảy ra: giấy tờ sở hữu là giấy tờ giả nhưng người bình thường không thể nhận biết được; dạng thứ hai giấy tờ đó được cơ quan có thẩm quyền cấp và người này đã bán cho người “thứ ba” ngay tình). Người thứ ba ngay tình không biết đó là của gian nên đã mua. Sau này cơ quan điều tra thu lại tài sản từ người “thứ ba” ngay tình hoặc chủ sở hữu kiện đòi lại tài sản. Trường hợp này người thứ ba ngay tình không được bảo vệ.

Có thể thấy tuyệt đại bộ phận các trường hợp nói trên người thứ ba ngay tình đều không được bảo vệ, không được công nhận giao dịch đó là hợp pháp. Người thứ ba ngay tình chỉ được yêu cầu người đã chuyển nhượng cho mình bồi thường thiệt hại. Đối với các hợp đồng tín dụng có thế chấp, bảo lãnh thì hợp đồng tín dụng đó trở thành hợp đồng không có bảo đảm.

Tóm lại, qua các trường hợp nói trên chúng ta đều có thể thấy đối với trường hợp tài sản phải kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, mà cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đứng tên một hoặc một số người, nhưng những người đã đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đứng ra bán, chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh… thì người thứ ba ngay tình tham gia vào giao dịch này không thể biết tài sản đó là thuộc sở hữu chung vợ chồng hay thuộc sở hữu của nhiều người nên đã giao kết hợp đồng. Nhưng khi tranh chấp xảy ra người thứ ba ngay tình có thể không mất tiền, nhưng “còn lâu mới lấy lại được tiền” và theo kiện dài dài vô cùng tốn kém.

- Nếu giao dịch đó là thế chấp, bảo lãnh thì người nhận thế chấp, bảo lãnh sẽ lãnh đủ.

3- Quy định của Dự thảo Bộ luật Dân sự về người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự

Dự thảo Bộ luật Dân sự đã có các quy định liên quan đến việc bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu tại các Điều 148 và 187.

Điều 148 quy định:

1. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.

2. Trường hợp đối tượng của giao dịch dân sự là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu mà tài sản đó đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba biết hoặc phải biết tài sản là đối tượng của giao dịch đã bị chiếm đoạt bất hợp pháp hoặc ngoài ý chí của chủ sở hữu.

3. Trường hợp đối tượng của giao dịch dân sự là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu mà tài sản đó chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba thì giao dịch này bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa”.

Điều 187 quy định:

Chủ sở hữu, chủ thể có vật quyền khác có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”.

Nghiên cứu quy định này tác giả nhận thấy dự thảo nghiêng về bảo vệ người thứ ba ngay tình nhiều hơn so với Bộ luật Dân sự năm 2005.

Song điều mà tác giả trăn trở là công tác quản lý, đặc biệt là quản lý nhà, đất; việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng còn quá nhiều yếu kém, bất cập. Trước đây mỗi đợt tiến hành cấp giấy làm ào áo theo kiểu chiến dịch, thuê một Công ty đo đạc… đã đem lại vô vàn thứ nhiêu khê cho khổ chủ làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản và thật đáng buồn trong không ít trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng vẫn không phản ánh chính xác, đầy đủ, không cụ thể, nhằm số thửa, nhằm tên, một thửa cấp giấy cho hai người… Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy muốn ghi các thông tin trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng thế nào cho dễ, cho gọn, cho hạn chế trách nhiệm, chứ không phải tiện cho người dân là mục tiêu xử lý.

Tại sao giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình không ghi rõ trong hộ gồm những ai? Tài sản là di sản của đồng thừa kế khi kê khai (dù cho một người đại diện) tại sao không ghi đủ các thừa kế có quyền lợi vào, sau đó mới ghi người đại diện… Sự yếu kém trong công tác quản lý, cuối cùng người dân sẽ lãnh đủ (trong quan hệ dân sự sẽ là chủ sở hữu hoặc người thứ ba chịu đòn, tùy theo luật nghiêng về bảo vệ ai nhiều hơn).

Những yếu kém trong thực tiễn quản lý đang diễn ra hàng ngày, nên không có cách nào có thể bảo vệ cả hai bên (chủ sở hữu và người thứ ba ngay tình) như nhau, buộc chúng ta phải có lựa chọn nào đó ít đau đớn hơn, có tính hợp lý hơn. Với suy nghĩ như vậy, tác giả bày tỏ sự tán thành dự thảo tại Điều 148 và Điều 187 Bộ luật Dân sự bởi các lý do sau đây:

Một là các chủ thể trong quan hệ tài sản chung vợ chồng hay tài sản là đồng sở hữu, đồng thừa kế, tài sản hộ gia đình, tài sản do người khác đứng tên hộ… là người biết rõ tình trạng tài sản, có điều kiện và buộc phải quan tâm đến tình trạng tài sản, tình trạng giấy tờ về tài sản của mình nhất. Các chủ thể này có đủ thông tin, điều kiện hơn bất kỳ chủ thể nào khác để thực hiện việc bảo toàn tài sản của mình như thực hiện việc kê khai, đăng ký, làm giấy tờ chứng nhận sở hữu tài sản theo đúng quy định của pháp luật về kê khai, đăng ký. Nếu họ có ủy quyền hoặc để một thành viên nào đó quản lý, kê khai, làm thủ tục giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng thì họ cũng đủ điều kiện thuận lợi hơn chủ thể khác khi kiểm tra, xem xét tài sản, giấy tờ về tài sản. Nếu họ không thực hiện tốt, không quan tâm đầy đủ đến việc kiểm soát phần quyền tài sản của mình thì họ đáng chịu nhiều rủi ro hơn so với người thứ ba chiếm hữu ngay tình.

Hai là: Nếu họ không quan tâm đầy đủ đến tài sản thuộc đồng sở hữu của mình (tài sản thuộc đồng sở hữu, đồng thừa kế… để một người đi kê khai, đứng tên còn bản thân không quan tâm gì đến). Nay người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đem bán, thế chấp, bảo lãnh… những người này thông thường là người thân, người nhà nên nếu có lọt sàng xuống nia, đó là tổn thất của họ, do họ góp phần tạo nên một phần và cũng chính người thân của họ được hưởng.

Ba là Trong thực tế có trường hợp các đồng sở hữu, sử dụng, những người có quyền lợi đối với tài sản đó biết người đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tham gia giao dịch dân sự (bán, chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh) biết từ khi giao dịch diễn ra hoặc sau đó biết không phản đối, ngầm như không biết, sau này đứng ra khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng (việc Tòa án thu thập được chứng cứ chứng minh họ biết không phản đối là rất khó, nếu thu thập được sẽ không chấp nhận yêu cầu của họ, nếu không thu thập được, thực tiễn xét xử buộc phải chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện là hủy hợp đồng, và người thứ ba ngay tình cũng có quyền đòi lại tiền và yêu cầu bồi thường thiệt hại). Do đó, quy định như dự thảo luật sẽ buộc các đồng sở hữu phải có lựa chọn, khi biết có giao dịch nếu không đồng ý phải phản đối ngay, ngăn chặn giao dịch diễn ra, còn nếu họ ngậm miệng để “ăn tiền” như trước đây, thì với quy định như dự thảo Bộ luật Dân sự họ phải nhận rủi ro cũng là hợp lý.

Bốn là đối với người thứ ba ngay tình (trừ trường hợp họ biết, có đủ điều kiện để biết thì không bảo vệ người thứ ba ngay tình) họ không thể biết hoặc rất khó biết tài sản do một người đứng tên lại là tài sản của đồng thừa kế, đồng sở hữu, tài sản chung vợ chồng, hoặc tài sản mà giấy tờ cấp cho hộ gia đình thì người thứ ba làm sao biết được chính xác trong hộ có những ai. Bắt người thứ ba ngay tình phải biết được những ai có quyền lợi đối với tài sản đó chẳng khác nào đánh đố họ, tìm kim đáy bể. Do đó, quy định như dự thảo là hợp lý, rất có ý nghĩa thực tiễn.

Luật hiện hành (Bộ luật Dân sự năm 2005) buộc người thứ ba chiếm hữu ngay tình phải biết tài sản đưa ra giao dịch có phải của người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hay của các đồng sở hữu…Trong thực tế rất nhiều trường hợp rất khó có thể biết đầy đủ, chính xác những ai có quyền lợi đối với tài sản do một người đứng tên hoặc đứng tên hộ gia đình đưa ra giao dịch. Vì vậy, trong thực tế người thứ ba ngay tình chỉ có một trong hai lựa chọn: không tham gia giao dịch, hai là tham gia giao dịch chấp nhận rủi ro vì khi có tranh chấp hợp đồng sẽ vô hiệu. Quy định như Bộ luật Dân sự năm 2005 luôn đưa đến cho người thứ ba ngay tình tâm trạng bất an khi tham gia giao dịch, vì họ không được bảo vệ thỏa đáng.

Năm là quy định như dự thảo sẽ bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người có thiện chí, ngay tình trong giao lưu dân sự. Người thứ ba ngay tình căn cứ vào việc tài sản đã đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà xác lập giao dịch thì người thứ ba ngay tình được bảo vệ, sẽ tạo thuận lợi cho các quan hệ dân sự được ổn định, góp phần giảm đi sự bội tín, lừa lọc trong quan hệ dân sự.

Tuy nhiên, tác giả rất mong từ các tình huống của thực tiễn đã phân tích ở trên, ban soạn thảo có thể đưa ra các quy định cụ thể hóa cho các trường hợp đó thì sẽ rất tốt, có sự công bằng cao hơn cho người dân tham gia giao dịch, và thuận lợi cho cơ quan xét xử.

Dự thảo Bộ luật Dân sự chưa có quy định riêng về các trường hợp mà một bên đứng tên giấy tờ sở hữu, sử dụng tham gia giao dịch: thế chấp, bảo lãnh, cầm cố… tài sản chung thì người nhận thế chấp, bảo lãnh sẽ được bảo vệ như thế nào? (mà hiện nay người nhận thế chấp, bảo lãnh đang lãnh đủ, chưa có quy định nào bảo vệ được quyền lợi chính đáng của các chủ thể này). Tác giả đề nghị nên có quy định cụ thể vấn đề này vào dự thảo để các giao dịch bảo đảm: thế chấp, bảo lãnh… mà người nhận thế chấp, bảo lãnh… ngay tình thì cũng được bảo vệ. Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh… không vô hiệu. Nếu chỉ căn cứ vào điều 148 của dự thảo sẽ rất khó áp dụng cho các trường hợp này.

Trên đây là nội dung bài viết bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2015 của Luật sư: Nguyễn Trinh Đức - công ty Luật IPIC. Bài Viết có trích dẫn từ góp ý dự thảo Bộ Luật Dân sự 2015 của Tưởng Duy Lượng, TTV VIAC. Chúng tôi trân trọng cảm ơn!

THÔNG TIN LIÊN HỆ

  • Trụ Sở: Phòng 401, tòa nhà văn phòng 169 Nguyễn Ngọc Vũ, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội. Chi nhánh TP HCM: Tầng 8 tòa nhà Thủy Lợi, số 102 Nguyễn Xí, phường 26, quận Bình Thạnh, Tp Hồ Chí Minh.
  • (04) 7301.8886 - (04) 7302.8886
  • info@ipic.vn ; trinhduclawyer@gmail.com
  • Mobile: 0936.342.668

Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí, nếu bạn có bất kì thắc mắc hay câu hỏi nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng tư vấn và giải đáp.